• tau bientau bien
  • CÔNG TY CP THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ LOGISTICS ĐÔNG DƯƠNGCÔNG TY CP THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ LOGISTICS ĐÔNG DƯƠNG
  • CÔNG TY CP THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ LOGISTICS ĐÔNG DƯƠNGCÔNG TY CP THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ LOGISTICS ĐÔNG DƯƠNG
  • CÔNG TY CP THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ LOGISTICS ĐÔNG DƯƠNGCÔNG TY CP THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ LOGISTICS ĐÔNG DƯƠNG
  • CÔNG TY CP THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ LOGISTICS ĐÔNG DƯƠNGCÔNG TY CP THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ LOGISTICS ĐÔNG DƯƠNG
Vai trò của tổ chức pháp chế trong xu thế phát triển và hội nhập của ngành Hàng hải
Thứ ba | 22/12/2009 14:23
LTS: Ngày 16/10, tại Hà Nội, Bộ GTVT đã tổ chức Hội nghị chuyên đề về công tác pháp chế ngành GTVT. Tạp chí HHVN xin giới thiệu bài phát biểu của Phó Cục trưởng Cục HHVN Trần Thanh Minh tại Hội nghị.

LTS: Ngày 16/10, tại Hà Nội, Bộ GTVT đã tổ chức Hội nghị chuyên đề về công tác pháp chế ngành GTVT. Tạp chí HHVN xin giới thiệu bài phát biểu  của Phó Cục trưởng Cục HHVN Trần Thanh Minh tại Hội nghị.

1. Về tổ chức pháp chế hàng hải

Tổ chức pháp chế trong ngành Hàng hải đã được hình thành từ lâu, ban đầu từ năm 1946 thuộc Nha Hàng hải trong tổ chức của Bộ Giao thông Công chính, năm 1956 thuộc Cục Vận tải thủy, sau đó từ năm 1965 thuộc Cục Vận tải biển; từ năm 1978 thuộc Tổng cục Đường biển và từ năm 1992 đến nay thuộc Cục Hàng hải Việt Nam. Tuy tên gọi trong mỗi thời kỳ có khác nhau nhưng sự hình thành của tổ chức pháp chế hàng hải luôn gắn liền với quá trình xây dựng, phát triển của ngành Hàng hải nói riêng và ngành Giao thông vận tải nói chung; đặc biệt, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu của tổ chức pháp chế hàng hải trong các thời kỳ này đều được lãnh đạo ngành Hàng hải quan tâm tăng cường.

Thực tiễn cho thấy, thành quả đạt được trong xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật hàng hải ở nước ta qua các thời kỳ nêu trên càng khẳng định vai trò của tổ chức pháp chế hàng hải. Cụ thể, trước năm 1990 pháp luật hàng hải được hình thành gồm 07 nghị định và gần 30 quyết định cấp Thủ tướng, Bộ trưởng, trong đó có Nghị định số 203/NĐ-CP về giao thông đường biển ban hành năm 1962 được coi là tiền thân của Bộ luật HHVN 1990; từ năm 1990, ngoài Bộ luật HHVN 1990 là Bộ luật thứ hai (sau Bộ luật Hình sự) và là Bộ luật về kinh tế đầu tiên của nước ta, còn có 17 nghị định và 51 quyết định của Thủ tướng, các Bộ trưởng; từ năm 2005 đến nay gồm Bộ luật HHVN 2005, 01 pháp lệnh, 08 nghị định, 19 quyết định của Thủ tướng và 43 quyết định, thông tư cấp Bộ trưởng.

Tổ chức pháp chế hàng hải luôn giữ vai trò chủ đạo trong tham mưu tổ chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hàng hải của Cục Vận tải biển, Tổng cục Đường biển trước đây và Cục Hàng hải VN hiện nay. Hệ thống tổ chức này gồm Phòng Pháp chế (Ban Pháp chế trước đây) thuộc cơ quan Cục; các Phòng Pháp chế thuộc 23 Cảng vụ Hàng hải, các Chi cục Hàng hải, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp công ích hàng hải trực thuộc. Tổ chức pháp chế thuộc Cục Hàng hải Việt Nam có đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được đào tạo cơ bản trong nước và nước ngoài về chuyên môn hàng hải, luật, hành chính và các lĩnh vực chuyên môn liên quan khác; có kinh nghiệm thực tiễn về hàng hải, bảo đảm trình độ tiếng Anh, nghiệp vụ pháp chế, kiến thức pháp luật nói chung và pháp luật Việt Nam, luật pháp quốc tế về hàng hải nói riêng. Hiện tại, trong số gần 190 cán bộ, công chức, viên chức chuyên trách pháp chế trong tổ chức pháp chế thuộc Cục Hàng hải Việt Nam đều có trình độ đại học, trên 08% có bằng 2 đại học và gần 3% trên đại học.

Ngoài tổ chức pháp chế thuộc Cục Hàng hải Việt Nam, từ trước đến nay tổ chức pháp chế của các doanh nghiệp trong ngành Hàng hải đều được quan tâm tăng cường, nhất là tổ chức pháp chế của tập đoàn, tổng công ty, công ty thuộc các thành phần kinh tế với trên 400 doanh nghiệp lớn, nhỏ gồm các chủ tàu, cảng biển và các doanh nghiệp dịch vụ bổ trợ hàng hải khác. Trong số này, điển hình là tổ chức pháp chế của VINALINES, VOSCO, VIETFRACHT, VITRANSCHART, VINASHIP, FALCON, VITACO, VIPCO, Cảng Hải Phòng, Cảng Sài Gòn, Công ty Tân Cảng Sài Gòn.

Thực tế nêu trên cho thấy, tổ chức pháp chế hàng hải đã có những đóng góp nhất định đối với quá trình phát triển của ngành Hàng hải nước ta và hiện nay đang đòi hỏi cần được tăng cường nhằm phát huy hơn nữa trong thời kỳ tới.

2. Kết quả hoạt động của tổ chức pháp chế hàng hải

Với vai trò “đầu mối”, vừa là “cầu nối” của nền kinh tế quốc dân, từ năm 1991 đến nay ngành Hàng hải nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực. Thành tựu này đã góp phần tích cực vào tiến trình phát triển, hội nhập của nền kinh tế quốc dân và kinh tế biển nói riêng; đồng thời góp phần bảo đảm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia về biển, đảo và nâng cao uy tín của ngành Hàng hải Việt Nam trong cộng đồng hàng hải thế giới. Đặc biệt, những năm gần đây, ngành Hàng hải nước ta phát triển mạnh với mức tăng trưởng vượt bậc trong tất cả các lĩnh vực so với trước năm 2005. Hiện tại đội tàu biển Việt Nam có trên 1.400 tàu lớn nhỏ với tổng trọng tải trên 6,2 triệu DWT (xếp thứ 29/167 quốc gia thành viên Tổ chức Hàng hải quốc tế, 5/10 trong các nước ASEAN); sản lượng hàng hóa, hành khách qua cảng biển hàng năm tăng mạnh (năm 2008 đạt 196 triệu tấn, năm 2009 dự kiến trên 225 triệu tấn); tổng sản lượng vận tải biển trong nước, quốc tế cũng tăng (năm 2008 đạt 69,3 triệu tấn và năm 2009 dự kiến đạt 78 triệu tấn); công nghiệp tàu thủy và các dịch vụ bổ trợ hàng hải khác cũng tăng mạnh, đặc biệt đã hạ thủy nhiều loại tàu biển với trọng tải lớn, hiện đại và đầu tư phát triển mạnh kết cấu hạ tầng hàng hải, vận tải đa phương thức, dịch vụ Logistics.

Trong những thành tựu nêu trên có sự đóng góp nhất định của các tổ chức pháp chế thuộc Cục Hàng hải Việt Nam và các doanh nghiệp trong Ngành được thể hiện qua một số mặt hoạt động chính dưới đây:

a. Về xây dựng pháp luật hàng hải

Phát huy thành quả của các thời kỳ trước đây, trong gần 10 năm qua tổ chức pháp chế thuộc Cục Hàng hải Việt Nam luôn chủ động, tích cực phối hợp triển khai xây dựng Dự án sửa đổi Bộ luật HHVN 1990 và các dự thảo văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật HHVN mới. Đến cuối năm 2007, hầu hết các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật HHVN 2005 đã được các cơ quan Nhà nước ban hành kịp thời theo thẩm quyền, gồm: 01 pháp lệnh, 08 nghị định, 19 quyết định của Thủ tướng và 43 quyết định, thông tư cấp Bộ trưởng. Từ năm 2008 đến nay tiến hành rà soát để sửa đổi hoặc ban hành mới các văn bản (kể cả một số văn bản được ban hành sau khi Bộ luật mới có hiệu lực) nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển, hội nhập của Ngành.

b. Về ký kết, gia nhập điều ước, thỏa thuận hàng hải quốc tế

Ngoài pháp luật quốc gia, hoạt động hàng hải của mỗi nước còn bị điều chỉnh bởi các điều ước, thỏa thuận quốc tế và yếu tố đặc thù này thể hiện tính bắt buộc đối với ngành Hàng hải nước ta. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn này và để bắt kịp xu thế phát triển của luật pháp hàng hải quốc tế, từ trước đến nay tổ chức pháp chế thuộc ngành Hàng hải luôn chủ động trong việc nghiên cứu đề xuất ký kết, gia nhập các điều ước, thỏa thuận quốc tế. Đến thời điểm này, Việt Nam là thành viên của 14 công ước quốc tế do Tổ chức Hàng hải quốc tế thông qua, 18 hiệp định hàng hải và 22 thỏa thuận quốc tế với các nước.

c. Về tuyên truyền, phổ biến pháp luật hàng hải

Các tổ chức pháp chế thuộc Ngành luôn chủ động triển khai tuyên truyền, phổ biến pháp luật Việt Nam và các điều ước, thỏa thuận quốc tế về hàng hải mà Việt Nam là thành viên bằng các hình thức phù hợp, thiết thực như tiến hành tổng hợp, dịch sang tiếng Anh, in phát hành ấn phẩm và cung cấp qua Website của Cục các văn bản quy phạm pháp luật hàng hải; tổ chức hội nghị, hội thảo, tập huấn tại các khu vực, vùng, miền, địa phương; đưa vào chương trình đào tạo của các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và các trung tâm huấn luyện nguồn nhân lực hàng hải; tuyên truyền qua báo chí, truyền hình, đài phát thanh; in, phát các loại tờ rơi nhằm phổ biến sâu rộng và một số hình thức thiết thực khác.

Tuy còn có hạn chế về nhiều mặt, nhưng việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật hàng hải trong thời gian qua đã mang lại những kết quả tích cực. Điều này càng khẳng định vai trò của các tổ chức pháp chế thuộc ngành Hàng hải và ý thức chấp hành pháp luật của tổ chức, cá nhân trong toàn Ngành.

d. Về thanh tra, kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật hàng hải

Các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật Việt Nam và các điều ước, thỏa thuận quốc tế về hàng hải mà nước ta là thành viên luôn được tăng cường. Các tổ chức pháp chế thuộc Cục Hàng hải Việt Nam phối hợp với tổ chức giám định thuộc Cục Đăng kiểm Việt Nam và tổ chức pháp chế của các doanh nghiệp hàng hải nhằm tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát thực thi pháp luật hàng hải. Hoạt động kiểm tra nhà nước cảng biển, kiểm tra nhà nước tàu mang cờ và kiểm tra nhà nước ven biển được tăng cường.

Kết quả nêu trên không những giúp tổ chức, cá nhân nắm vững, chấp hành đúng mà còn ngăn ngừa kịp thời các sai phạm trong thực thi pháp luật hàng hải. Điều này góp phần giảm thiểu số vụ tai nạn hàng hải, sự cố gây ô nhiễm môi trường và hạn chế số lượt tàu biển Việt Nam bị lưu giữ ở nước ngoài, giảm các vụ tranh chấp hàng hải; trật tự, kỷ cương, an toàn, an ninh và phòng ngừa ô nhiễm môi trường trong hoạt động hàng hải cơ bản được bảo đảm.

đ. Các hoạt động khác

Ngoài những hoạt chính nêu trên, tổ chức pháp chế thuộc Cục HHVN và các doanh nghiệp hàng hải còn phối hợp tham gia các hoạt động liên quan sau đây:

- Phối hợp tham gia xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các cơ chế, chính sách phát triển hàng hải; các tiêu chuẩn, quy chuẩn và định mức về kinh tế, kỹ thuật, công nghệ hàng hải.

- Tham mưu góp ý kiến đối với những dự án luật, dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật của các ngành, lĩnh vực khác.

- Phối hợp tham gia triển khai thực hiện chương trình cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thể chế hàng hải, trong đó chú trọng cải cách thủ tục hành chính hàng hải (hạn chế số lượng, đơn giản hóa thủ tục, thuận lợi về khai báo và pháp luật hóa các thủ tục).

- Phối hợp tham gia các hoạt động của Tổ chức Hàng hải quốc tế, tổ chức quốc tế liên quan khác và các nước trong việc đàm phán thông qua điều ước, thỏa thuận quốc tế; tổ chức các hội nghị, hội thảo về pháp luật hàng hải và hợp tác đào tạo nâng cao kiến thức pháp luật, trình độ chuyên môn đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức pháp chế.

- Phối hợp tham gia thực hiện các giải pháp về bảo đảm trật tự, kỷ cương, an toàn, an ninh, phòng ngừa ô nhiễm môi trường và giải quyết các tranh chấp trong hoạt động hàng hải.

3. Kết luận và kiến nghị

Lịch sử hình thành và phát triển của ngành Hàng hải nước ta trong các thời kỳ luôn gắn liền với hoạt động của các tổ chức pháp chế thuộc cơ quan quản lý nhà nước về hàng hải và doanh nghiệp trong Ngành. Điều này càng khẳng định, hoạt động quản lý nhà nước về hàng hải không thể thiếu vai trò của tổ chức pháp chế, dù tổ chức này thuộc cơ quan quản lý Nhà nước hay các doanh nghiệp hàng hải. Tuy nhiên, trong hoạt động vẫn còn khó khăn, nhất là về tổ chức, nhân lực và kinh phí xây dựng, triển khai thực hiện pháp luật hàng hải. Những khó khăn này không chỉ riêng đối với ngành Hàng hải mà đang là thực trạng chung của các tổ chức pháp chế chuyên trách khác trong ngành Giao thông vận tải.

Từ thực tiễn hoạt động của tổ chức pháp chế hàng hải cho thấy, hiệu quả hoạt động của các tổ chức pháp chế trong ngành Giao thông vận tải cần bảo đảm các yêu cầu cơ bản dưới đây:

- Trước hết, hoạt động quản lý của Bộ, các Cục, Sở, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp trong ngành Giao thông vận tải không thể thiếu vai trò của tổ chức pháp chế chuyên trách, đặc biệt là đối với các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành thuộc Bộ. Điều này đòi hỏi các cơ quan, doanh nghiệp cần quan tâm kiện toàn tổ chức, tăng cường nguồn nhân lực và đầu tư hợp lý kinh phí đối với hoạt động của tổ chức pháp chế trực thuộc.

- Hai là, các tổ chức pháp chế chuyên ngành cần chủ động thực thi vai trò của mình nhằm tham mưu giúp người đứng đầu cơ quan, doanh nghiệp bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý. Điều này đòi hỏi các tổ chức pháp chế phải phát huy đúng chức năng pháp chế trong cả tham mưu xây dựng cũng như tổ chức thực hiện pháp luật chuyên ngành.

- Ba là, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức pháp chế phải có đủ trình độ chuyên môn, năng lực nghiệp vụ và nắm vững pháp luật, nhất là pháp luật thuộc lĩnh vực chuyên trách. Điều này đòi hỏi người đảm nhiệm chức trách pháp chế phải thật sự tâm huyết, mẫn cán, chính trực và chuyên nghiệp.

- Bốn là, hiệu quả hoạt động của các tổ chức pháp chế chuyên ngành không thể thiếu sự hỗ trợ của các cơ quan tham mưu thuộc Cơ quan Bộ. Do đó, đề nghị Vụ Pháp chế và các Vụ chức năng tăng cường hướng dẫn, giúp phát huy vai trò của tổ chức pháp chế các Cục chuyên ngành.

- Năm là, cần có sự phối hợp giữa các tổ chức pháp chế chuyên ngành thuộc Bộ nhằm tăng cường hợp tác, trao đổi kinh nghiệm nhằm phát huy vai trò pháp chế ngành Giao thông vận tải.

Xuất phát từ những yêu cầu nêu trên và để phát huy hơn nữa vai trò của các tổ chức pháp chế trong hoạt động quản lý Ngành, Cục HHVN xin kiến nghị với Bộ Giao thông vận tải như sau:

- Tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh việc kiện toàn về mặt tổ chức và nhân lực của các tổ chức pháp chế thuộc Ngành, nhất là tổ chức pháp chế của các cục quản lý chuyên ngành.

- Tăng cường tổ chức các khóa tập huấn về pháp chế nhằm nâng cao kỹ năng nghiệp vụ đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đảm nhiệm chức trách pháp chế chuyên ngành.

- Cấp đủ kinh phí cần thiết nhằm giúp các tổ chức pháp chế thuộc Ngành có điều kiện triển khai việc tham mưu xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật chuyên ngành, kể cả kinh phí nghiên cứu đề xuất ký kết, gia nhập và tổ chức thực hiện các điều ước, thỏa thuận quốc tế.

 


Các bài viết khác
 
 
      CÔNG TY CP THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ LOGISTICS ĐÔNG DƯƠNG
      CÔNG TY CP THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ LOGISTICS ĐÔNG DƯƠNG
      CÔNG TY CP THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ LOGISTICS ĐÔNG DƯƠNG
      CÔNG TY CP THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ LOGISTICS ĐÔNG DƯƠNG
      CÔNG TY CP THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ LOGISTICS ĐÔNG DƯƠNG